Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiệp vụ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiệp vụ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

TRỢ GIÚP PHÁP LÝ LƯU ĐỘNG ĐIỂM NHÂN TRONG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ


          I. Đặt vấn đề:
          Là một trong những hoạt động TGPL, TGPL lưu động có vị trí rất quan trọng.
          - Trước hết, mặc dù hoạt động TGPL đã hình thành từ hơn 10 năm qua, Luật và các văn bản thi hành Luật TGPL đã được triển khai thực hiện sau hơn 2 năm, nhưng có thể nói các hoạt động TGPL vẫn còn rất mới mẻ. Rất nhiều người và ngay cả các cơ quan, chính quyền địa phương các cấp còn chưa biết đến hoạt động TGPL. Có nhiều nguyên nhân để nói về vấn đề này. Song điều quan trọng là nhiều nguời dân, nhiều ngành, chưa quan tâm đến các hoạt động pháp luật nói chung. Đời sống pháp luật có mặt chậm phát triển so với đời sống kinh tế-xã hội.   
          - Việc tổ chức TGPL lưu động là một trong những hoạt động thiết thực góp phần làm cho người dân ở địa phương, cơ sở không chỉ ở miền núi, xa xôi cách trở mà ngay cả ở trung tâm thành phố tỉnh lỵ khi cần tìm hiểu pháp luật nói chung và riêng với TGPL là điều rất cần thiết.
          - Việc tổ chức TGPL lưu động phải luôn gắn với hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật. Nếu chỉ đơn thuần tổ chức các hoạt động TGPL lưu động như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng ( nếu có) thì hiệu quả hạn chế...Ngược lại các hoạt động TGPL sẽ có tác động rất tích cực đối với hiệu quả của công tác phổ biến giáo dục pháp luật.
          II. Các hoạt động trong hoạt động TGPL lưu động:
          1. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật:
          1.1/ Một số tình hình về phổ biến giáo dục pháp luật:
          Hiện nay, hầu hết các cấp, các ngành đều đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật. Hàng năm thường trực của Hội đồng Phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật ( gọi là Hội đồng) đều có kế hoạch PBGDPL trình cho  UBND cùng cấp ban hành. Bên cạnh đó, khi các đạo luật mới được ban hành đều được Hội đồng có kế hoạch phổ biến cụ thể. Tuy nhiên có thực tế là phần lớn các kế hoạch này đều được triển khai phổ biến trong nhân dân. Việc triển khai trong cán bộ, công nhân viên chức rất ít khi được quan tâm! Đối với việc triển khai PBGDPL trong nhân dân, tùy thuộc rất nhiều vào điều kiện, năng lực của các báo cáo viên pháp luật. Trong khi đó, nội dung pháp luật nhiều. Có những đạo luật liên quan trực tiếp hàng ngày đến cuộc sống nhân dân, nhưng có những đạo luật người dân chưa thấy được sự tác động trực tiếp trong các quan hệ xã hội trước mắt…Điều quan trọng là, có những đạo luật “cũ” nhưng lại có quan hệ rất thiết thực trong đời sống hàng ngày. Qua đó, các văn bản hướng dẫn thi hành luật ngày càng nhiều, người dân cần được hiểu biết pháp luật một cách đầy đủ và cụ thể thì lại phải “tiếp thu” các đạo luật “mới”. Mặt khác, trên thực tế có thể các Hội đồng chỉ tập trung triển khai, phổ biến các đạo luật mới ban hành, trong khi đó lại chưa có kế hoạch triển khai, phổ biến pháp luật một cách đầy đủ đối với những vấn đề pháp luật mà người dân quan tâm.
          Nói đến pháp luật là phải đề cập đến tất cả các đạo luật đã được ban hành và phải được triển khai thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, trong thực tế khi đời sống kinh tế-xã hội đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, thì đời sống pháp luật mặt nào đó vẫn chưa theo kịp. Nguyên nhân có thể là: người dân chưa quan tâm nhiều đến pháp luật. Chỉ đến khi có vướng mắc pháp luật, người ta mới tìm hiểu đến pháp luật. Việc tìm hiểu pháp luật trong trường hợp này thường rất phiến diện. Hoặc là phần nào có lợi cho riêng mình thì bỏ công tìm hiểu kỹ, còn những vấn đề khác không quan tâm. Việc tìm hiểu và nhận thức pháp luật một cách “khập khiễng” như thế, trong thực tế đã gây ra không ít khó khăn cho các cấp chính quyền trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Bên cạnh đó, việc phổ biến giáo dục pháp luật không đồng bộ, cụ thể với tình hình thực tế ở địa phương cũng dễ gây ra sự nhận thức lệch lạc.
          1.2/ Tăng cường công tác PBGDPL, nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân, thông qua hình thức sinh hoạt chuyên đề pháp luật:
          Trong thực tế, thông thường trong một buổi PBGDPL các báo cáo viên thường trao đổi thông tin một chiều. Rất ít thời gian và điều kiện để thu nhận thông tin phản hồi thông qua việc PBGDPL. Như trên đã đề cập, việc tiếp thu nội dung PBGDPL phần lớn tùy thuộc vào các báo cáo viên pháp luật truyền đạt. Do vậy sẽ rất khó đạt yêu cầu và nâng cao được hiệu quả  nhận thức pháp luật một khi thông tin chỉ có một chiều đi. Biện pháp tăng cường công tác PBGDPL thông qua buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật, sẽ góp phần khắc phục hạn chế này. Tuy nhiên, để thực hiện đạt yêu cầu một buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật cần có những yêu cầu tương đối chặt chẽ từ khâu tổ chức.
          1. Trước hết là công tác khảo sát, nắm tình hình. Việc khảo sát này thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau. Không nhất thiết phải bằng “Phiếu khảo sát” vừa tốn kém kinh phí, vừa mất thời gian nhưng chưa chắc hiệu quả đem lại đã đúng với yêu cầu đặt ra. Để nắm bắt tình hình nhu cầu cần tìm hiểu pháp luật trong nhân dân, qua thực tiễn của công tác TGPL chúng tôi thấy rằng:
          - Thông qua các cấp hội, đoàn thể nhất là Hội Phụ nữ, Hội nông dân để nắm bắt thực tế tình hình nhu cầu cần tìm hiểu pháp luật trong hội viên, nắm bắt những vướng mắc pháp luật để chuẩn bị nội dung, yêu cầu PBGDPL.
          - Đối với các địa phương đang trong quá trình thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là đối với những vùng kinh tế thuần nông, nay chuyển sang kinh tế công nghiệp, dịch vụ, thương mại sẽ có nhiều vướng mắc về nhận thức và thực hiện chủ trương trong quá trình điều chỉnh lại đất đai, phân bổ lại lao động, dân cư.
          - Tùy thuộc vào từng vùng để có nội dung sinh hoạt chuyên đề pháp luật cho phù hợp với yêu cầu.
          2. Về công tác chuẩn bị: Trên cơ sở nắm bắt tình hình nhu cầu cần tìm hiểu pháp luật trong nhân dân, thông qua các kênh thông tin trên, việc chuẩn bị nội dung PBGDPL cần phải cụ thể. Thông thường trong một buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật sẽ có rất nhiều câu hỏi liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Tùy thuộc vào người chủ trì buổi sinh hoạt, có thể hướng nội dung buổi sinh hoạt đi vào trọng tâm của nội dung pháp luật cần được phổ biến. Mặt khác, đối với việc phổ biến một đạo luật mới được Quốc hội ban hành, tùy thuộc vào đối tượng người nghe mà đưa ra nội dung cho phù hợp. Ví dụ như: không thể phổ biến nguyên văn nội dung của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho hội viên nông dân, hội viên phụ nữ. Qua đó, có thể đề cập đến những nội dung cơ bản nhất của đạo luật có liên quan trực tiếp đến quyền lợi thiết thực của người dân, thì có thể họ mới quan tâm lắng nghe. Bên cạnh đó, có thể lồng vào một số nội dung pháp luật khác mà người dân đang quan tâm qua khảo sát, nắm bắt tình hình trước. Qua thực tế cho thấy, các quan hệ dân sự, hình sự, đất đai, hôn nhân gia đình, chính sách xã hội…luôn là đề tài được người dân quan tâm.
          3. Về tổ chức một buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật:
          2. Hoạt động tư vấn pháp luật:
          3. Hoạt động trao đổi với chính quyền địa phương, phản ánh và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tồn tại của người dân địa phương.
          III. Sự phối, kết hợp với các đoàn thể trong việc tổ chức TGPL lưu động:

TRỢ GIÚP PHÁP LÝ, MỘT TRONG NHỮNG NGUỒN LỰC GÓP PHẦN NÂNG CAO NHẬN THỨC PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN

          Trong các chương trình an sinh xã hội, mỗi chương trình có một vị trí nhất địnhLà một trong những nguồn lực góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân nói chung và nhất là đối với những người thuộc diện được trợ giúp pháp lý (TGPL), trong những năm qua các hoạt động của TGPL đã từng bước “luôn đi cùng dân”.

Trong 6 tháng đầu năm 2009, tại Trung tâm đã thụ lý 195 vụ việc trong đó thực hiện tham gia tố tụng 117 vụ việc, thực hiện tư vấn pháp luật 78 vụ việc. Trong tổng số 117 vụ việc tham gia tố tụng, Luật sư Cộng tác viên thực hiện 102 vụ việc, Trợ giúp viên pháp lý thực hiện 15 vụ việc. Ngoài ra, hàng tuần Trung tâm có lịch phân công chuyên viên, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trực, tiếp công dân. Qua đó, hàng ngày Trung tâm tiếp nhận từ 1-2 cuộc điện thọai yêu cầu tư vấn, (chủ yếu là những vụ việc tư vấn đơn giản), bình quân hàng tháng có khoảng 20 cuộc điện thọai yêu cầu tư vấn của người dân ( phần lớn các cuộc gọi yêu cầu tư vấn lần đầu qua điện thoại, nên Trung tâm hướng dẫn đến Trung tâm hoặc Chi nhánh để được thực hiện TGPL).
2. Trợ giúp pháp lý lưu động:
Trung tâm và các Chi nhánh TGPL số 01,02 đã tổ chức 39 đợt TGPL lưu động tại 75 làng, thôn, khu phố. Tại các đợt TGPL lưu động đã tổ chức 59 buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật, so với cùng kỳ tăng 29 buổi, đạt tỷ lệ 196,67%. Đã thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho 5.460 lượt người tham dự, thực hiện tư vấn pháp luật cho 2.571 đối tượng, với 2.606 vụ việc, trong đó trực tiếp thực hiện tư vấn bằng miệng 2.342  vụ việc, tư vấn bằng văn bản cho các đối tượng được TGPL 264 vụ việc.
          3. Về tham gia tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý:
Trong 6 tháng đầu năm 2009, Trung tâm đã thụ lý 117 đơn yêu cầu TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng từ các giai đọan điều tra, truy tố, xét xử. So với cùng kỳ năm 2008 tăng 91 vụ, đạt tỉ lệ 450%, trong đó 98 vụ án hình sự, 17 vụ việc dân sự, 02 vụ việc ly hôn. Trung tâm đã quyết định cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng 15 vụ việc, cử Luật sư cộng tác viên thực hiện 102 vụ việc. Về người được TGPL: có 91 đối tượng là người chưa thành niên, 11 đối tượng chính sách, 12 đối tượng là hộ nghèo, 01 đối tượng là người dân tộc Hrê, 02 đối tượng là phụ nữ bị bạo lực gia đình để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL. Các vụ việc đã và đang được thụ lý phần lớn là người chưa thành niên, phạm các tội như: Trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, cố ý gây thương tích, hiếp dâm và giết người…



ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỜNG, HIỆU QUẢ CỦA
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ LƯU ĐỘNG

          Trợ giúp pháp lý ( TGPL) lưu động là một trong những hoạt động, không chỉ nâng cao hiệu quả thiết thực của các hoạt động TGPL, mà còn góp phần tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân nói chung và cho người được TGPL. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần với việc thông báo của chính quyền địa phương về việc “ có Đoàn TGPL lưu động” đến tại địa phương để thực hiện TGPL. Trên thực tế số lượng người đến để đề nghị TGPL rất thấp. Nếu không muốn nói là phần lớn chỉ là cán bộ quân, dân, chính của địa phương hỏi cho biết và để giải quyết một số trường hợp khi người dân thắc mắc.
          Sở dĩ có tình trạng nầy là, trước hết phần lớn người dân rất ít quan tâm đến pháp luật. Mặt khác cũng không ai muốn “ dây dưa” vào với pháp luật  làm gì. Không ít quan niệm cho rằng, ai vi phạm pháp luật thì người đó chịu tội…còn tội như thế nào đó, thì họ phải “ráng chịu” vì cho rằng có nói cũng không được gì, nhất là đối diện với những trường hợp như:  “ Trong tay sẵn có đồng tiền, dễ bề thay trắng, đổi đen mấy hồi”. Tư tưởng thụ động, cầu an cộng với tư tưởng tiêu cực nên không ít trường hợp, nhất là những người nghèo, khi vướng mắc vào pháp luật không biết phải nhờ ai. Luật Trợ giúp pháp lý ra đời, có thể nói đây chính là cái phao, để cho những nhóm người yếu thế trong xã hội có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ pháp luật miễn phí. Thế nhưng, cho dù trước đó sau gần 10 năm thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức TGPL đã được hình thành và đi vào hoạt động, nhưng phạm vi, tính chất, đối tượng còn hạn chế. Để người dân hiểu được quyền lợi của mình trong việc TGPL, không thể chỉ có việc tổ chức các hoạt động TGPL, mà điều đầu tiên rất cần được phổ biến luật một cách sâu rộng và đầy đủ, nhất là mục đích, ý nghĩa, quyền lợi của người dân đối với Luật TGPL. Thông qua buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật, người dân không chỉ tiếp cận với nội dung của Luật TGPL mà có thể kết hợp phổ biến một số nội dung pháp luật mà người dân ở từng khu vực quan tâm. Nhất là hiện nay, nhiều địa phương đang trong quá trình thực hiện chuyển đôi cơ cấu kinh tế, đô thị hóa… những vấn đề như chính sách đền bù, giải tỏa, chính sách xã hội, môi trường…luôn là đề tài được nhiều người quan tâm. Thông qua buổi sinh hoạt chuyên đề pháp luật, những người thực hiện TGPL lưu động có dịp được tư vấn, trao đổi trên một số lĩnh vực với nhiều người hơn. Đối với những trường hợp vướng mắc pháp luật cụ thể, đoàn TGPL lưu động sẽ trực tiếp thực hiện tư vấn hoặc thực hiện các hình thức TGPL khác tùy thuộc vào nội dung, yêu cầu của người được TGPL. Việc tổ chức các đợt TGPL lưu động, không chỉ là việc đem lại lợi ích đối với một số người dân ở khu vực dân cư; điều quan trọng là làm cho người dân nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật đối với đời sống.Từ đó mà có thái độ ứng xử phù hợp và đúng với quy định của pháp luật.



Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ, VÀ VIỆC THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TGPL


I. TẠI SAO PHẢI CÓ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ?
Một là : Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, có mặt tích cực là thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu cực khác là làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng, các khu vực, các nhóm xã hội. Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự  bất bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện về giáo dục, y tế, văn hoá… và đặc biệt là tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Người nghèo thường không có điều kiện về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại.
Hai là : Trong điều kiện hệ thống pháp luật của nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều, lại thường xuyên được bổ sung, sửa đổi thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, để xử sự theo đúng pháp luật trong các quan hệ của đời sống xã hội không phải dễ dàng. Do vậy, tổ chức pháp lý nhà nước ra đời đã tạo cơ hội và những điều kiện cần thiết để người nghèo, người có công với cách mạng có điều kiện hoàn cảnh tương tự như người khác trong tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật, thực hiện công tác đề ơn, đáp nghĩa và góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Ba là: Công tác trợ giúp pháp lý còn là điều kiện nhằm để bảo vệ nhân quyền, bảo đảm công lý, là một trong những mục tiêu của phong trào giảm nghèo toàn cầu và phù hợp với xu thế phát triển, tiến bộ của thế giới.
II. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ:
          Ngày 29 tháng 6 năm 2006 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/01/2007. Để Luật Trợ giúp pháp lý nhanh chóng đi vào hiện thực, ngày 12/01/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 07/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng, để thúc đẩy các hoạt động của trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, để đảm bảo việc triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý có chất lượng, Bộ  trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản đồng thời liên tịch với một số bộ, ngành ban hành một số Thông tư hướng dẫn thực hiện các hoạt động TGPL. Trong đó các văn bản như: Thông tư 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ TGPL và quản lý nhà nước về TGPL, Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP ngày 08/1/2/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy tắc nghề nghiệp TGPL và nhất là Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL.
III. CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TGPL:
Theo quy định tại Quyết định 11/2008/QĐ-BTP mục đích điều chỉnh của chất lượng vụ việc TGPL là :
1. Nâng cao chất lượng vụ việc TGPL, tạo cơ sở cho người có yêu cầu trợ giúp pháp lý được thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí với chất lượng tốt nhất.
2. Tạo cơ sở pháp lý để người thực hiện trợ giúp pháp lý tự đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý do mình thực hiện hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; để cơ quan, tổ chức và nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật về trợ giúp pháp lý.
3. Làm căn cứ xác định trách nhiệm, năng lực của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý để xác định mức độ trách nhiệm trong trường hợp có sai sót và có biện pháp bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực của người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
IV. TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TGPL:
Việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn về hình thức TGPL, theo quy định của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL. Cụ thể là :
1. Các tiêu chuẩn chung:
a) Tiêu chuẩn tạo điều kiện thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý tiếp xúc, trình bày và cung cấp thông tin về vụ việc trợ giúp pháp lý:
1. Người có yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý được tạo thuận lợi để tiếp xúc, trình bày, cung cấp thông tin về vụ việc yêu cầu trợ giúp pháp lý.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tiếp tiếp xúc, làm việc với người được trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích của họ, với những người có quyền và lợi ích liên quan và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan để người được trợ giúp pháp lý có điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp thông tin, theo dõi, giám sát quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi phân công vụ việc có trách nhiệm tạo điều kiện để người thực hiện trợ giúp pháp lý tiếp xúc với người có yêu cầu; lựa chọn phân công người thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp, am hiểu sâu sắc lĩnh vực pháp luật có liên quan đến yêu cầu trợ giúp pháp lý, có đủ năng lực và trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp.
b) Tiêu chuẩn về tính khách quan, toàn diện và kịp thời
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã nghiên cứu kỹ lưỡng, thu thập đầy đủ và chính xác các thông tin, tài liệu, các chứng cứ pháp lý có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý, đến người được trợ giúp pháp lý để hiểu rõ về bản chất, nội dung yêu cầu trợ giúp pháp lý.
Trong trường hợp có nghi ngờ về tính chính xác, khách quan của thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý do người được trợ giúp pháp lý cung cấp, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tiến hành xác minh, làm rõ.
2. Người thực hiện TGPL đã nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật có liên quan đến vụ việc để lựa chọn phương án thực hiện trợ giúp pháp lý và vận dụng chính xác các quy phạm pháp luật. Nội dung trợ giúp pháp lý cụ thể, dễ hiểu, dễ vận dụng, có tính khả thi, bảo đảm tiết kiệm, phù hợp với điều kiện, trình độ nhận thức của người được trợ giúp pháp lý.
3. Vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện kịp thời, bảo đảm về thời hạn và thời hiệu theo quy định của pháp luật.
c) Tiêu chuẩn đáp ứng được yêu cầu hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý
1. Người được trợ giúp pháp lý được giải thích về quyền và nghĩa vụ theo pháp luật về trợ giúp pháp lý và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Các quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc được trợ giúp pháp lý để bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật.
3. Vướng mắc về pháp luật của người được trợ giúp pháp lý được giải tỏa theo hình thức trợ giúp pháp lý phù hợp và họ được nâng cao về nhận thức pháp luật.
4. Người được trợ giúp pháp lý hài lòng về thái độ phục vụ, nội dung và cách thức thực hiện trợ giúp pháp lý của người thực hiện trợ giúp pháp lý, của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; được tham gia giám sát và đánh giá về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.
5. Người được trợ giúp pháp lý được giải quyết nhanh chóng và đúng pháp luật đối với các yêu cầu về khiếu nại, tranh chấp trong trợ giúp pháp lý.
d) Tiêu chuẩn tuân thủ và phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội
1. Tuân thủ và phù hợp với quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý:
a) Tuân thủ các quy định của pháp luật về người được trợ giúp pháp lý;
b) Phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý;
c) Tuân thủ các quy định về người thực hiện trợ giúp pháp lý, phạm vi, hình thức, lĩnh vực và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý;
d) Không vi phạm các quy định của pháp luật về các hành vi bị nghiêm cấm, bí mật nghề nghiệp và những việc không được làm;
đ) Bảo đảm và tuân thủ về thời hiệu và thời hạn thực hiện vụ việc TGPL.
2. Tuân thủ và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan đến quá trình giải quyết vụ việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Các nhận định, đánh giá, giải pháp đưa ra trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý phải chính xác, có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
3. Nội dung trợ giúp pháp lý phải phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc và không trái đạo đức xã hội.
đ)  Tiêu chuẩn đáp ứng các yêu cầu về trình tự, thủ tục
1. Việc thực hiện TGPL với từng hình thức TGPL cụ thể bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về trình tự, thủ tục thực hiện vụ việc theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Trình tự, thủ tục thực hiện trợ giúp pháp lý đã được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý.
e)  Tiêu chuẩn kiểm soát được hậu quả pháp lý phát sinh từ nội dung TGPL
1. Người được trợ giúp pháp lý được cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến yêu cầu trợ giúp pháp lý trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý và các thông tin có liên quan.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý dự báo được những rủi ro, những hậu quả pháp lý sẽ phát sinh khi đưa ra quan điểm, nhận định để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn hoặc đề xuất cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng pháp luật và đề xuất được các biện pháp phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro, hậu quả bất lợi trong thời gian ngắn nhất.
g)  Tiêu chuẩn về việc lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý đã được lập, quản lý theo đúng quy định của pháp luật, được sắp xếp theo thứ tự thời gian, dễ tra cứu, khai thác và sử dụng.
2. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý đã thể hiện đầy đủ, chính xác, trung thực quá trình thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo hình thức, trình tự thời gian, nội dung khách quan của vụ việc và kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Các tiêu chuẩn theo hình thức TGPL:

a) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tư vấn pháp luật

1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn chung theo quy định.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã hướng dẫn cho người có yêu cầu trợ giúp pháp lý cách thức, biện pháp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý và các quy định của pháp luật có liên quan đến yêu cầu tư vấn pháp luật.
3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý nhận biết được bản chất vụ việc, viện dẫn và giải thích đầy đủ các điều, khoản của văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng trong vụ việc, đưa ra các giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để người có yêu cầu trợ giúp pháp lý lựa chọn cách ứng xử phù hợp với pháp luật.
4. Kết quả tư vấn pháp luật đã thể hiện được các nội dung của quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý trong Phiếu thực hiện trợ giúp pháp lý, văn bản tư vấn pháp luật hoặc kiến nghị về vụ việc trợ giúp pháp lý, kiến nghị hành vi công vụ hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật.
b) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tham gia tố tụng hình sự
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn chung theo quy định.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thực hiện tư vấn cho người được trợ giúp pháp lý về các quy định của pháp luật có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý; đưa ra các giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn.
3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thông báo kịp thời cho người có yêu cầu về kết quả trợ giúp pháp lý và khi phát hiện ra những tình tiết có thể ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của họ hiện đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết.
4. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật; nghiên cứu, thu thập, xác minh toàn diện và khách quan các chứng cứ; tiếp xúc với người có yêu cầu để giải thích quy định của pháp luật về tố tụng và thu thập thông tin, xem xét hiện trường, tiếp xúc với nhân chứng, người có liên quan; thu thập tài liệu, thông tin và thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác.
5. Đã trực tiếp tham gia phiên tòa để bào chữa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.
6. Trong trường hợp thực hiện bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã làm rõ được các vấn đề về nhân thân người phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi; vì lợi ích hợp pháp của người có yêu cầu đã đề nghị áp dụng hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình sự; đưa ra các tình tiết giảm nhẹ, ngoại phạm hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự cho người được trợ giúp pháp lý.
7. Trong trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã làm rõ được mức độ thiệt hại, các quyền, nghĩa vụ về tài sản và thống nhất với người có yêu cầu về mức độ thiệt hại phải bồi thường, mức bồi thường hoặc việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tài sản theo quy định của pháp luật.
8. Bản luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã phản ánh trung thực sự thật khách quan của vụ việc, cơ sở pháp lý cần áp dụng, lập luận xác đáng, có sức thuyết phục và được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ghi nhận trong các văn bản tố tụng.
c)  Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tham gia tố tụng dân sự
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã xem xét kỹ căn cứ khởi kiện, hướng dẫn người có yêu cầu hòa giải hoặc hoàn thiện hồ sơ khởi kiện, thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại để giao nộp cho Toà án theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, lấy lời khai của người làm chứng, đối chất, định giá tài sản hoặc trưng cầu giám định.
Trong trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý bị xâm hại thì người thực hiện trợ giúp pháp lý đã phân tích, đánh giá, xác định được mức độ thiệt hại; đưa ra phương án giải quyết vụ việc, biện pháp khôi phục lại quyền, lợi ích và cơ sở pháp lý cụ thể; hướng dẫn về địa chỉ và thủ tục yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
3. Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 8 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn này.
d)  Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tham gia tố tụng hành chính
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã xem xét kỹ căn cứ khởi kiện, hướng dẫn người có yêu cầu hoàn thiện hồ sơ khởi kiện, thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại, giao nộp cho Toà án. Trong trường hợp cần thiết, hướng dẫn để người có yêu cầu làm đơn đề nghị Toà án thu thập chứng cứ, áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; tham gia cùng với người được trợ giúp pháp lý để thoả thuận với người bị kiện về việc giải quyết vụ án hành chính.
3. Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã phản ánh được đầy đủ, trung thực sự thật khách quan của vụ việc, cơ sở pháp lý cần áp dụng, đưa ra phương án giải quyết có sức thuyết phục và được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ghi nhận trong các văn bản tố tụng.
đ) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc đại diện ngoài tố tụng
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện TGPL đã trực tiếp làm việc cụ thể với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để giải quyết vụ việc của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý.
3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã kiến nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về biện pháp giải quyết vụ việc nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc thỏa thuận về cách thức giải quyết vụ việc giữa người thực hiện trợ giúp pháp lý với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được ghi nhận bằng văn bản cùng với những biện pháp bảo đảm thực hiện cam kết của các bên.
e) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc hoà giải
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, đánh giá đúng bản chất tranh chấp; phát hiện mâu thuẫn gây xung đột lợi ích của các bên; đã phân tích, viện dẫn đầy đủ các điều, khoản của văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để hướng dẫn, giải thích cho các bên tranh chấp; đưa ra phương án giải quyết tranh chấp, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và thuyết phục các bên tự thoả thuận giải quyết tranh chấp.
3. Trong trường hợp hoà giải thành, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã hướng dẫn các bên tranh chấp tự giác thực hiện các cam kết. Trong trường hợp hoà giải không thành đã hướng dẫn người có yêu cầu trợ giúp pháp lý thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình và thực hiện các thủ tục cần thiết yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
4. Biên bản hoà giải đã thể hiện được đầy đủ nội dung tranh chấp, ý kiến của các bên tranh chấp, cơ sở pháp lý được áp dụng, nội dung giải thích, hướng dẫn hòa giải của người thực hiện trợ giúp pháp lý để các bên lựa chọn và các hướng dẫn cụ thể trong trường hợp hòa giải không thành.
g) Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại
1. Đã bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 14 Bộ tiêu chuẩn.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã hướng dẫn người có yêu cầu trợ giúp pháp lý hoàn thiện đơn, các giấy tờ để đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết công việc của họ; đã trực tiếp hoặc tham gia cùng người có yêu cầu thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại tại cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3. Việc giúp đỡ người được trợ giúp pháp lý thực hiện các công việc và thủ tục liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại được thể hiện khách quan, trung thực trong hồ sơ vụ việc.
V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC TGPL:
Qua gần 02 năm thực hiện Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP, kết quả triển khai thực hiện đánh giá chất lượng vụ việc TGPL của Trung tâm như sau:
1. Kết quả quán triệt nội dung Bộ tiêu chuẩn:
- Số lượng Trợ giúp viên được quán triệt:    07
          - Số lượng Cộng tác viên trợ giúp pháp lý được quán triệt: 154
          - Hình thức quán triệt: Phổ biến thông qua hội nghị tập huấn.  
2. Kết quả thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (từ thời điểm Bộ tiêu chuẩn có hiệu lực đến hết quý 2/2010): 


TS vụ việc (%)
Số vụ việc tự đánh giá
Số vụ việc được đánh giá của Trung tâm TGPL
Số vụ việc được Sở Tư pháp thực hiện đánh giá
Ghi chú
Tổng số vụ việc đã hoàn thành của tổ chức thực hiện TGPL
   357
     07
      357


Tổng sô vụ việc được đánh giá
   357
     07
      357


Tỉ lệ % số lượng vụ việc được đánh giá / tổng số vụ việc của tổ chức thực hiện TGPL
   100%             

     07
      357




Kết quả đánh giá
Tổng số vụ việc đạt chất lượng tốt
4,8%
(%)

        17


Tổng số vụ việc đạt chất lượng
95,2%
(%)
    07
      340


Tổng số vụ việc không đạt chất lượng tốt

(%)




          3. Thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý chất lượng vụ việc của Trung tâm và trong quá trình đánh giá chất lượng vụ việc:   
          a) Thuận lợi  
          - Có Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (TGPL), đây là cơ sở pháp lý để người thực hiện TGPL tự đánh giá chất lượng vụ việc TGPL do mình thực hiện hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc được TGPL;
- Thông qua việc đánh giá vụ việc thực hiện TGPL của Trợ giúp viên pháp lý, của các cộng tác viên TGPL, Trung tâm TGPL đã xác định được mức độ trách nhiệm, năng lực của người thực hiện TGPL. Từ đó có kế họach bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao năng lực của người thực hiện TGPL;  
          - Thời gian qua, các Trợ giúp viên pháp lý, các cộng tác viên TGPL thực hiện các vụ việc TGPL cho người được TGPL nhìn chung đảm bảo được yêu cầu, tiêu chuẩn của chất lượng vụ việc TGPL như: việc thực hiện TGPL đối với từng hình thức TGPL cụ thể bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về trình tự, thủ tục thực hiện vụ việc theo quy định của pháp luật về TGPL và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 
          - Phần lớn các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung tâm TGPL, các Chi nhánh TGPL, người thực hiện TGPL thông tin tuyên truyền pháp luật đến với người dân nói chung và người được TGPL nói riêng; đồng thời thực hiện công tác TGPL, trong đó có việc trả lời hoặc phối hợp đề xuất hướng giải quyết các vụ việc liên quan đến TGPL.
          b) khó khăn 
          - Tại Điều 25 của Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư Pháp về ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL  trong đó nói rõ việc “Tự đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý” của người thực hiện TGPL khi vụ việc TGPL đã hòan thành. Tuy nhiên, trong thực tế người thực hiện TGPL không tự đánh giá  kết quả vụ việc do mình làm vì họ cho rằng : không ai đánh giá mình làm không đạt chất lượng cả. Mặt khác việc thực hiện tự đánh giá để làm gì? Do vậy, việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chủ yếu do Trung tâm TGPL cử Trợ giúp viên đánh giá, thẩm định;
                   - Tại Khỏan 1 Điều 44 Luật TGPL quy định: “Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày hòan thành vụ việc, người thực hiện TGPL phải bàn giao hồ sơ vụ việc TGPL cho tổ chức thực hiện TGPL”. Song, khi áp dụng trong thực tiễn những vụ việc tham gia tố tụng lại vướng mắc. Cụ thể, Vụ việc bào chữa hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL xong, quyết định hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng cả tháng sau người thực hiện TGPL mới nhận được quyết định, bản án đó. Do vậy, thời hạn bàn giao hồ sơ cho tổ chức TGPL (Trung tâm TGPL) chậm hơn so với thời gian mà điều luật quy định. Vì quyết định hay bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, gửi khi nào là quyền của Tòa án, TGPL không thể bắt buột họ gửi theo yêu cầu thực hiện TGPL được.
          - Trong quá trình thực hiện vụ việc TGPL cho thấy không phải tất cả các vụ việc TGPL người được TGPL đều tỏ ra hài lòng. Vì người thực hiện TGPL ngòai việc thực hiện vụ việc TGPL phù hợp với đạo đức xã hội còn phải tuân theo pháp luật. Chính vì vậy, đôi khi nội dung diễn biến vụ việc của người được TGPL yêu cầu, cung cấp các giấy tờ, thông tin có liên quan đối chiếu với qui định của pháp luật thì họ bất lợi, nhưng khi người thực hiện TGPL tư vấn, giải thích đúng sai thì họ lại phản ứng và tỏ thái độ không hài lòng cứ cho việc họ yêu cầu là đúng, thậm chí có trường hợp phản ứng gay gắt, thiếu tôn trọng…. Như vậy, nếu áp dụng quy định tại Khỏan 4 Điều 8 của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL thì khó mà đánh giá sự hài lòng của người được TGPL được. 
          4. Những tồn tại qua việc thực hiện đánh giá chất lượng vụ việc TGPL: 
          a) Mặc dù Thông Tư Liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định về TGPL trong họat động tố tụng đã có hiệu lực pháp luật nhưng khi áp dụng trong thực tiễn có cơ quan chưa thực hiện đảm bảo như việc cấp giấy chứng nhận cho người được cử tham gia tố tụng; nhất là việc ra và gởi quyết định hoặc bản án đã xét xử xong cho người thực hiện TGPL để người thực hiện TGPL hòan chỉnh việc lập hồ sơ gởi cho tổ chức thực hiện TGPL đúng thời hạn được qui định tại Khỏan 1 Điều 44 Luật TGPL. Vướng mắc này ít nhiều làm ảnh hưởng đến việc thời hạn bàn giao hồ sơ vụ việc đã hòan thành cho tổ chức TGPL;
          b) Việc tự đánh giá chất lượng TGPL của người thực hiện TGPL, thực hiện gần như là hình thức. Dẫu biết rằng, qua quá trình thực hiện TGPL bằng các hình thức TGPL, sau đó người thực hiện TGPL đối chiếu với các quy định của pháp luật để xem lại việc thực hiện TGPL của mình đảm bảo chất lượng đến đâu, tuy nhiên trong thực tế việc này khó thực hiện, với lý do là bản thân người thực hiện TGPL cũng ít có thời gian xem lại việc tham gia TGPL của mình, mặt khác cũng khó có việc tự đánh giá mình không đạt chất lượng, bỡi vì trong quá trình tham gia thực hiện TGPL nếu không đảm bảo yêu cầu chất lượng, thì người thực hiện TGPL phải có biện pháp hoặc nếu không thực hiện được thì Trung tâm TGPLNN hoặc Chi nhánh TGPL phải có biện pháp khắc phục.
          c) Trong Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL, ngoài một số tiêu chuẩn quy định, có một số nội dung tiêu chuẩn không phù hợp với thực tế. Mặt khác nếu làm được điều này không chỉ gây khó khăn cho người thực hiện TGPL mà có thể ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều mặt của xã hội. Bỡi vì không phải tất cả vụ việc TGPL của người được TGPL đều đúng và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và ngay cả trong thực tế. Không phải tất cả những người được TGPL có yêu cầu được TGPL đều có tính khách quan, đúng với quy định của pháp luatạ hienẹ hành. Do vậy việc: “Khuyến khích người được TGPL và các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia giám sát chất lượng vụ việc TGPL” ( Khoản 3, Điều 5), hoặc :  “Người được TGPL hài lòng về thái độ phục vụ, nội dung và cách thức thực hiện TGPL của người thực hiện TGPL, của tổ chức thực hiện TGPL; được tham gia giám sát và đánh giá chất lượng vụ việc TGPL” ( Khoản 4, Điều 8; Khoản 3, Điều 22). Ví dụ như rất nhiều trường hợp hiện nay, khi đất đai có giá cao, không ít trường hợp tranh chấp đất không đúng với quy định pháp luật hiện hành như: đòi lại đất cũ trước đây trong cải tạo nông nghiệp; đòi lại đất mà bản thân và gia đình của họ đã bỏ đi làm ăn xa trên 30 năm; hoặc yêu cầu cấp đất đang lấn chiếm vì vị trí đất hiện tại lấn chiếm nằm trong quy hoạch phát triển cụm khu công nghiệp, khu kinh tế có giá trị kinh tế cao…
          VI.KẾT LUẬN:
          Việc thực hiện TGPL có chất lượng là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá về trình độ, năng lực, tâm huyết, yêu cầu… của người thực hiện TGPL. Không vì việc “cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí” mà vụ việc thực hiện TGPL không đảm bảo chất lượng. Do vậy để đảm bảo thực hiện TGPL có chất lượng, nhất là việc tham gia tố tụng rất cần sự phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, người thực hiện tố tụng đồng thời đối với các vụ việc thực hiện tư vấn pháp luật, thực hiện đại diện ngoài tố tụng cho người được TGPL của các Trợ giúp viên, cộng tác viên rất cần sự phối hợp của các cấp chính quyền trong quá trình giải quyết vụ việc có liên quan đến hoạt động quản lý của chính quyền…

                                                                                             Hùynh Văn Chưa

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Hỏi đáp pháp luật về Thừa kế - chia di sản

1/Con rể có được chia thừa kế không?
Cha mẹ vợ tôi đã qua đời, có để lại một căn nhà nhưng không được lập di chúc.Sau đó vợ tôi cũng đã mất.Vậy tôi có được thừa kế căn nhà do cha mẹ vợ để lại hay không?
Trả lời: Những người thừa kế theo pháp luật theo hàng thừa kế thứ nhất gồm có: vợ, chồng,cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.Theo đó ông không thuộc đối tượng được hưởng thừa kế di sản của cha mẹ vợ.Tuy nhiên ông được thừa kế phần di sản mà người vợ được thừa hưởng của cha mẹ vợ.(Đ676 BLDS)
2/ Cháu được thừa kế di sản của cậu?
Cậu ruột tôi chết có để lại một căn nhà và 7944m2 đất ruộng nhưng không có di chúc. Tôi là cháu ruột có được quyền thừa kế theo pháp luật di sản của cậu để lại hay không?
Trả lời: Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất gồm có: vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. hàng thừa kế thứ hai gồm: ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của người chết. hàng thừa kế thứ 3 gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác, chú, cậu, cô, dì ruột. Những người ở hàng thừa kế sau được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước. Nếu cậu bạn không có ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai thì bạn cùng với những người khác thuộc hàng thừa kế thứ ba( nếu có) được thừa kế di sản của người cậu chết để lại.(K1, K3 Đ676 BLDS)
3/Chia di sản ngoài di chúc?
Ngoài một số tài sản đã được mẹ tôi nêu trong di chúc, mẹ tôi còn một miếng đất mới mua. Vậy chúng tôi phải chia thừa kế ra sao?
Trả lời: Phần di sản đã được định đoạt trong di chúc sẽ được chia thừa kế theo di chúc. Phần di sản không được định đoạt trong di chúc thì chia thừa kế theo pháp luật. háng thừa kế thứ nhất gồm có: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi cuả người chết.những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.( Đ 675, 676 BLDS)
4/Di chúc hợp pháp?
Bà nội tôi trước lúc chết có lập di chúc để lại cho tôi một miếng đất. Tuy nhiên, tờ di chúc ấy không có chứng thực của UBND phường vậy di chúc ấy có hợp pháp không?
Trả lời: Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực được coi là hợp pháp nếu người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, ép buộc đe doạ, cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Nếu thoả mãn các điều kiện nêu trên thì di chúc của bà nội anh được coi là hợp pháp (K1, K4, Đ652 BLDS)
5/Khởi kiện chia tài sản chung?
Cha tôi chết năm 1995, có để lại một mảnh đất do cha đứng tên nhưng không có di chúc. Năm 1999, chúng tôi có làm giấy xác nhận đồng thừa kế và uỷ quyền một người em đại diện đăng ký giấy tờ đất. Nay chúng tôi muốn khởi kiện để chia số đó thì có được không?
Trả lời: Trong trường hợp thời hạn 10 năm kể từ thời điểm thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và các văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản thừa kế do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết. Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế không còn nhưng các đồng thừa kế vẫn có quyền khởi kiện để yêu cầu toà án chia tài sản chung. (Đ2.4 mục 1 NQ02 HĐTP ngày 10/08/2004).
6/ Con gái có được hưởng thừa kế?
Bố tôi mất có để lại một căn nhà nhưng không có di chúc. Người anh cả của tôi đã bán căn nhà này để chia cho 4 anh em trai nhưng không chia cho tôi và người em gái với lý do đã đi lấy chồng. Cách làm này đúng hay sai?
Trả lời: Do cha bà mất không có di chúc nên di sản của ông ấy được chia thừa kế theo luật. hàng thừa kế thứ nhất của người chết gồm có vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Theo đó anh em của bà được hưởng phần di sản của người cha chết để lại. Nếu không thể thoả thuận được việc phân chia này các anh em của bà có thể khởi kiện đến TAND cấp huyện để được xem xét giải quyết(Đ676 BLDS,K5, Đ25 BLTTDS)
7/ Phân chia di sản?
Cha mẹ tôi qua đời, có để lại di chúc cho phép ba anh em chúng tôi thừa hưởng toàn bộ di sản. Thế nhưng di chúc này không nói rõ phần của từng người sẽ được hưởng. Vậy chúng tôi sẽ phân chia như thế nào?
Trả lời: Việc phân chi di sản được thưc hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc trừ trường hợp có thoả thuận khác. Nếu không có thoả thuận gì khác thì anh em của bạn đựơc chia đều số di sản mà cha mẹ để lại.(Đ 684 BLDS)
8/ Thực hiện nghĩa vụ khi nhận thừa kế?
Sinh thời mẹ tôi có vay ngân hàng 250 triệu đồng.  Nay mẹ tôi qua đời ngân hàng yêu cầu anh em tôi trả nợ thay cho mẹ tôi trong khi chúng tôi không biết gì về số nợ này. Vậy chúng tôi có trả số nợ đó không?
Trả lời: Những người được thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần di sản đã nhận trừ trường hợp có thoả thuận khác. Anh em của ông chỉ phải trả nợ thay cho mẹ trong phạm vi phần tài sản đã được nhận(K1,K3 Đ 637 BLdS)
          9/ Thế chấp di sản thừa kế
Cha tôi mất có di chúc cho phép tôi và hai người chị được thừa kế nhà đất của ông. Ngoài ra cha tôi còn chỉ định tôi là người quản lý di sản trong thời gian hai người chị vắng nhà vì đi làm ăn xa. Nay do cần tiền để làm ăn nên tôi có thể thế chấp nhà đất trên hay không?
Trả lời: Người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc có nghĩa vụ bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản. Chỉ khi nào được hai người chị đồng ý bằng văn bản, ông mới có thể thế chấp nhà đất trên (k1 Đ639 BLDS)
10/ Hưởng di sản của ông bà nội
Cha tôi chết đã lâu, ông bà nội của tôi thì già yếu, sức khoẻ kém. Nếu ông bà tôi chết mà không để lại di chúc thì tôi có được thừa hưởng di sản của ông bà hay không?
Trả lời: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng  nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản mà cha hoạc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống (Đ 67 BLDS)
11/ Quản lý di sản
Cha mẹ tôi chết, có để lại một căn nhà nhưng không có di chúc. Nay anh chị em tôi muốn để người chị lớn đứng tên giấy chủ quyền nhà nhưng có 02 người thừa kế không đồng ý. Vậy ai sẽ quản lý di sản?
Trả lời: Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra. Trong trường hợp một trong các đồng thừa kế không đồng ý với việc cử người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản (K1,2 Đ 638 BLDS)
12/ Thừa kế theo pháp luật
Anh tôi mất cách đây 2 năm vì bị bệnh ung thư, không để lại di chúc. Hiện chị dâu tôi quản lý hết tài sản của anh chứ không chia cho cha mẹ tôi. Chẳng lẽ cha mẹ tôi không được hưởng thừa kế di sản do con trai để lại sao?
Trả lời: Hàng thừa kế thứ nhất của người chết gồm có: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi  của người chết. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng di sản bằng nhau. Vì anh bà mất không để lại di sản nên di sản do anh ấy để lại được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất nêu trên, trong đó có cha mẹ của bà (Đ 606 BLDS)
13/ Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Cha tôi mất, có để lại một xưởng may gia công, một căn nhà và một khoản tiền nợ (thuế, tiền công, nợ của câ nhân) nhưng không có di chúc. Hai chị em tôi định bán tài sản nói trên để trả nợ thay cho cha nhưng chưa biết phải trả nợ theo thứ tự nào?
Trả lời: Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản của người chết để lại trừ trường hợp có thoả thuận khác. Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau: chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng còn thiếu; tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ; tiền công lao động; tiền bồi thường thiệt hại; thuế và các khoản nợ khác đối với nhà nước; tiền phạt; các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác; chi phí cho việc bảo quản di sản; các chi phí khác. Những người thừa kế theo pháp luật của cha bà chỉ phải chịu trách nhiệm trả nợ thay cha trong phạm vi di sản của người chết để lại và theo thứ tự ưu tiên nói trên. Nếu di sản của người cha không đủ trả nợ thì các chủ nợ không có quyền lấy tài sản của chị em bà để trừ nợ. (k1 Đ 637 BLDS)
14/ Thay đổi họ không ảnh hưởng đến quyền thừa kế?
Năm 2007, sau khi ly hôn, tôi đã thay đổi họ của con từ họ cha sang họ mẹ. Nay chồng cũ tôi mất (không có di chúc) có để lại một số di sản. Vậy con tôi có được thừa kế di sản của cha hay không?
Trả lời: Việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ. Cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật trừ trường hợp người không được quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật. Do thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên con bà được thừa kế theo pháp luật đối với di sản của người cha chết để lại. (Đ27,631, 643, 676 BLDS)
15/ Thừa kế thế vị
Năm 1968, cha tôi chết. Đến năm 1994 ông, bà nội tôi qua đời không để lại di chúc và có để lại một mảnh đất. Anh, em tôi có được thừa kế đất do ông bà nội để lại hay không?
Trả lời: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Vì cha bà chết trước ông, bà nội của bà nên anh, em bà được hưởng thừa kế thế vị phần di sản mà cha bà lẽ ra được hưởng nếu ông ấy còn sống (Đ 677 BLDS)
16/ Trả nợ thay cha?
Sinh thời cha tôi có vay cuả người bạn 10 triệu đồng. Nay người bạn của cha tôi yêu cầu tôi trả nợ. Vì cha tôi mất không để lại di sản nên tôi có phải trả khoản nợ đó hay không?
Trả lời: Những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Nếu cha của bạn mất không để lại di sản thì bà không có nghĩa vụ trả khoản nợ nói trên (trừ trường hợp bà tự nguyện trả nợ thay cha) ( K1 Đ637 BLDS)